Huyền Môn


NƠI HỌC HỎI & GIAO LƯU VỀ ĐẠO HỌC
 
IndexPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 THUẬT DU HỒN VÀ MỘNG DU ĐẠI PHÁP CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
MA NỮ U LINH
Smod
Smod


Tổng số bài gửi : 105
Điểm : 155
Thanks : 22
Join date : 07/11/2012
Đến từ : Trái Đất

Bài gửiTiêu đề: THUẬT DU HỒN VÀ MỘNG DU ĐẠI PHÁP CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG   27/11/2012, 5:36 pm

THUẬT DU HỒN VÀ MỘNG DU ĐẠI PHÁP CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG

Phương pháp Mộng Quán Thành Tựu là một trong Naropa Lục pháp ; Phương pháp nầy của Mật Tông Tây Tạng đem tâm lý , khí , mạch của con người và chú ngữ kết hợp lại ; đây là một phương pháp huấn luyện dùng để kết hợp tâm , sinh lý và linh lực của con người lại làm một ; trong quá trình huấn luyện phương pháp nầy sẻ mang ý thức của con người đi sâu vào trạng thái siêu thức ; và chỉ khi con người đi vào được trạng thái siêu thức , thì các loại siêu năng lực , siêu ý thức sẽ là cơ bản cho việc khai phóng năng lực tâm linh và những khả năng tiềm ẩn của con người .

Tuy nhiên , sự hoạch đắc siêu năng lực tâm linh xuyên qua mộng quán thành tựu không phải là mục đích cuối cùng ; mà khi con người đi sâu vào giấc ngũ , đưa tâm thức lên đến trạng thái siêu ý thức , để làm hiển lộ tự tính quang minh là bản lai diện mục của mình , từ đó sẻ hiểu thấu được sự bí mật của nhân sinh vũ trụ , nắm được con đường siêu xuất thoát ly sanh tử luân hồi , tự giác tiến hành cuộc biến hóa thăng hoa cho sanh mạng của mình , biến sự lưu chuyển của sanh tử , thay đổi những khổ nảo không viên mản của sanh mạng thành Thường – Lạc – Ngả – Tịnh , hưởng được hạnh phúc vĩnh hằng , một sanh mạng tự do tuyệt đối viên mản . Đó mới là mục đích cuối cùng trong quá trình phấn đấu và sự trở về cuối cùng của một sanh mạng được phát triển và được tiến hóa viên mản .

Nói đến Mộng Du , thì nhiều người liên tưởng đến một chứng bệnh mộng du . Chứng bệnh nầy được các nhà sinh lý học trong phòng thí nghiệm khám phá ra rằng , người đang trong cơn mộng du , thì thật ra là người nầy đang ở trạng thái ngũ mê rất sâu đến thời kỳ thứ 3- 4 trầm sâu trong giấc ngũ mê . Đối với chứng mộng du , Đông Y nhận rằng : Tâm chủ Huyết mà tàng Thần trí , Gan tàng Huyết và là nơi ngụ của Hồn ; tức tâm tàng Thần , Can tàng Hồn ; khi khí cơ của hai tạng Tâm và Can không điều hoà , thì Thần không chủ vị và hồn không có chổ dựa , nên Thần và hồn không an ; nên Hồn đi theo sự dẩn dụ của Thần trí trong lúc ngũ mà tạo nên chứng mộng du .

Nhưng chúng ta nói ở đây , không phải là chứng bệnh mộng du thường tình , mà chúng ta đang nói đến Mộng Quán Thành Tựu Pháp là một pháp môn tu trì cao cấp của Mật Tông Tây Tạng , còn gọi là Mộng Du Càn Khôn đại pháp .

Sinh mạng của con người do Thọ Mạng – Thân Nhiệt và Tâm Thức hợp thành , khi ba yếu tố nầy giải thể , thì con người bị chết . Trong thực tế , chỉ có sự phân ly của Ý thức và Thân Nhiệt ; do đó thân nhiệt nơi nào trên thân thể người chết cuối cùng biến mất , thì nơi đó là cửa ngỏ cuối cùng cho thần thức con người rời khỏi cơ thể . Theo đó , người ta nói rằng : Đỉnh Thánh , Nhản Thiên Sanh , Tâm Nhân , Phúc Tu La , Giang Quỷ , Tất Súc Sinh , Lưởng Túc Đọa Địa Ngục ;Trên đỉnh đầu là Thánh , mắt là sanh trên trời , ở tim là người , ở bụng là quỷ tu la , ở hậu môn là quỷ , ở đầu gối là súc sinh , ở hai chân là đọa địa ngục ; nếu Thần thức đi ra ở đỉnh đầu thì sẻ được siêu phàm nhập Thánh , được vãng sanh về Tịnh Độ Phật Quốc .

Mọi người đều có nghe Phật Sống tái sinh , khi một vị Phật sống viên tịch , linh hồn lìa khỏi xác , sẻ chuyển qua trong một cơ thể của một trẻ sơ sinh vừa mới chào đời ; đứa trẻ nầy là Phật sống được tái sinh , được xem là hóa thân của Phật , để tiếp tục hóa độ chúng sanh .

Linh hồn được nói đến ở đây , thực tế là đệ bát thức là A lại Da Thức của con người sau khi chết ; khi bảy thức đầu đả tan rả , thì thức thứ tám nầy là A lại Da Thức , sẻ do sự dẩn dắt của nghiệp lực Thiện Ác , đi thọ báo trong sáu nẻo luân hồi .
Khi có cơ hội nhân duyên hòa hợp , sẻ được tái sanh vào nhân đạo , và bản ngả sẻ được tạo nên do sự hòa hợp của ngũ uẩn , và ngũ uẩn là căn bản của sự tổ hợp và hình thành thế gian và cấu thành vũ trụ vạn hữu .

Ngũ uẩn gồm có Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức ; mà Sắc là chỉ nhục thân của con người , do tứ đại Đất – Nước – Gió – Lửa tạo thành : Đất là chỉ những vật rắn , cứng chắc trong thân con người như xương cốt , da thịt ; Nước chỉ máu huyết , các chất nội tiết , mồ hôi , các chất bài tiết ...., nói chung những chất lỏng trong cơ thể ; Lửa là chỉ thân nhiệt cùng sinh mạng lực chu lưu trong cơ thể con người ; Gió là chỉ khí hô hấp và các loại khí lực trong cơ thể .

Thọ – Tưởng – Hành – Thức là chỉ tinh thần tức là Tâm ; Thọ là do tiếp xúc với cảnh vật mà sinh ra trạng thái tâm lý của sự cảm thọ , tương đương với cảm tình trong môn Tâm lý Học . Tưởng là do sự thu nhận những hình tượng bên ngoài rồi từ đó hình thành ra những khái niệm về những hình tượng đó . Hành là đối cảnh mà sinh ra sự quyết định của nội tâm làm ngôn ngữ và hành vi được phát sanh ra ; Thức là chỉ sự phân biệt của ý thức , được gọi là sự nhận thức trong tâm lý học .

Trong ngũ uẩn thì Thức được xem như là Bản ngã của con người , nó có khả năng nhận thức được Sắc – Thọ – Tưởng – Hành là những sở thuộc của nó ; nói một cách khách quan , những đối tượng nhận thức gồm Thức và Danh Sắc ; Sự nhận thức đối tượng chủ quan hay khách quan không phải là hai vật khác nhau ; vì Thức là Thức trong Danh Sắc và Danh Sắc là Danh Sắc trong Thức ( Thí dụ như ta thấy bông hoa , thì cái ta thấy không phải là bông hoa thiệt , vì hình bông hoa được ta nhận thức chỉ do sự phản chiếu của ánh sáng đi vào mắt ta , và chuyển thành những tín hiệu sinh hóa điện trường sau đó hiện ra ở vùng hậu nảo , mà trở thành sự nhận thức về bông hoa mà thôi , chứ cái mà ta nhận thấy chỉ là thức của ta nhận thấy , chứ cái ta thấy không phải là bông hoa thật ) ; cho nên nói : Thức duyên Danh Sắc , Danh Sắc duyên Thức , cái nầy sanh thì cái kia sanh , cái nầy diệt thì cái kia diệt ; vạn pháp duy tâm tạo vậy .

Thức được phân chia ra thành bát thức : Mắt – Tai – Mủi – Miệng – Thân – Ý – Mạt Na – A Lại Da ; mà A Lại Da thông thường người ta cho là Linh hồn , còn gọi là Thần thức hay là Linh Thể , trong Duy Thức Học còn có thức thứ chín là Cưu Ma La Thức được dịch là Vô Cấu Thức – Bạch Tịnh Thức là căn bản của sự giải thoát để thành Phật ; Thức nầy có khả năng hội chứng được chân tâm của thực thể ; Thức nầy không sanh không diệt , thanh tịnh vô nhiểm ; thức nầy được gọi khác đi là Chân Tâm ; nhưng đa số công năng của nó lại được nhiếp vào A lại Da thức để sở tàng vô lậu chủng tử .

Vấn đề tu trì căn bản trong Phật Pháp là Tu trì cái “ Thức”, từ đó để thoát ly sanh tử , siêu xuất lục đạo luân hồi , minh tâm kiến tánh , tịnh hóa bát thức tâm điền , chuyển thức thành trí , thường lạc ngã tịnh vậy .

Trong Mật Tông Tây Tạng có Pháp Bổn Tôn , pháp nầy có thể tu tập trong một thời gian ngắn , dùng nội khí tu luyện có thể hình thành “ Thiên Thân ” đồng hình với Bổn Tôn của mình ; mà Vô Thượng Du Già gọi là “Ảo Thân ” .

Ngoài ra , Vô Thượng Du Già của Tạng Mật còn có một số pháp môn đặc thù có thể giúp con người siêu xuất sanh tử luân hồi như Pháp Phowa – Trung Ấm Thành Tựu Pháp – Hoán Thể Pháp – Tự Tại Chuyển Thân Pháp – Đoạt Xả Pháp .......
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
MA NỮ U LINH
Smod
Smod


Tổng số bài gửi : 105
Điểm : 155
Thanks : 22
Join date : 07/11/2012
Đến từ : Trái Đất

Bài gửiTiêu đề: Re: THUẬT DU HỒN VÀ MỘNG DU ĐẠI PHÁP CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG   27/11/2012, 5:38 pm

PHÁP PHOWA


Pháp Phowa , được dịch ý là Chuyển Thức Pháp ; lợi dụng con người trong lúc chết , dùng Thần Thức hợp cùng Nội Khí đi ra khỏi cơ thể từ đỉnh đầu mà vảng sanh Phật quốc , đạt được sự giải thoát khỏi sanh tử . Trong lúc còn sống bình thường dùng quán tưởng phối hợp cùng phương pháp đề khí để đả thông con đường ở đỉnh môn , tức là Khai Đảnh , quán tưởng Phật A Di Đà đang ngồi trên đỉnh đầu ; khi tu tập được thành tựu ; có thể làm chủ được sanh tử ; sau khi thành tựu được pháp nầy , cần tu phối hợp với pháp Trường Thọ Phật ; Để khi lâm chung hay muốn vảng sinh sớm theo ý muốn của mình , có thể y theo pháp nầy , đem Thần Thức của mình đi theo con đường quen thuộc đã được thực tập thường ngày , đưa lên đỉnh đầu nhập vào trong tim của Bổn Tôn , tức thì có thể vảng sanh đến ngay nơi tịnh độ của Bổn Tôn . Pháp nầy có thể tu hành thành tựu ngay lập tức trong 7 đến 21 ngày , là một con đường ngắn và nhanh nhất để thành Phật .

Những hành giả đã từng tu Tạng Mật Đại Thủ Ấn , Đại Viên Mản ... đang ở trình độ trung cấp , nếu tập thêm pháp nầy , có thể giúp hành giả nhanh chóng đạt đến sự giải thoát sanh tử ngay .



TRUNG ẤM THÀNH TỰU PHÁP


Trung Ấm Thành Tựu Pháp , còn gọi là Trung Ấm Thành Phật Pháp , Bí pháp nầy sẻ được xử dụng khi con người khi sắp chết , dùng Vọng Niệm Chỉ Tức , Bản Tính Quang minh tự hiển lộ , gọi là Tử Thời Quang Minh ( tức Ánh Sáng trong lúc chết ) – Thực Tướng Trung Hữu .

Hằng ngày trong tu tập , hành giả vào trong Thiền Định với trạng thái siêu giác , hành giả thường chú tâm để thể nhận sự hiển lộ của Lâm Tử Bát Tướng , tức tám hiện tượng của trạng thái cận tử ; từ đó thực tập lập lại quá trình nầy thường xuyên cho đến mức thuần thục ; đương nhiên trong lúc sống hành giả chưa thể kiến đạo thành Phật , nhưng khi đến lúc cận tử , hành giả tự nhiên sẻ chú ý thể nhận mà hòa nhập vào Bản Tính Quang Minh để tức thời có thể siêu thoát sanh tử .

HOÁN THỂ PHÁP


Là một phương pháp thành tựu bí mật của hành giả du già , khi cơ thể̀ đã xuy thối , hành giả có thể dùng phương pháp nầy để hoán đổi chuyển di , mà có thể còn được sinh hoạt tồn tại trên cỏi nhân gian ; Tại Ấn Độ và trong giới Đạo Gia cũng có nhiều người tu trì phương pháp nầy .
Phương pháp nầy , đầu tiên cần tìm một xác chết , không phải chết vì bệnh tật của một thanh niên khõe mạnh , sau đó dùng thuật Phowa , đem thần thức của hành giả xuất ra ngoài , rồi tiếp đến nhập vào xác chết nầy , như vậy xác chết của thanh niên nầy sẻ sống trở lại và thân xác củ của hành giả vừa rời khỏi sẻ bị chết đi , mặc dù thể xác củ của của hành giả đã bị chết đi , tướng mạo cùng danh tính bên ngoài nay đã bị thay đổi ; nhưng nhân cách cùng ý thức của hành giả lúc trước vẩn còn giử được đầy đủ .

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
MA NỮ U LINH
Smod
Smod


Tổng số bài gửi : 105
Điểm : 155
Thanks : 22
Join date : 07/11/2012
Đến từ : Trái Đất

Bài gửiTiêu đề: Re: THUẬT DU HỒN VÀ MỘNG DU ĐẠI PHÁP CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG   27/11/2012, 5:40 pm



TỰ TẠI CHUYỂN SANH PHÁP :


Do thành tựu của sự tu học , hành giả có thể dể dàng chuyển sanh tại trần thế để tiếp tục hoằng dương Phật pháp ; hành giả nhờ đã nắm chắc và nhận thức được các cảnh giới trung hữu cùng các ảo tướng của nó , thông qua đó hành giả có thể chọn đúng cha mẹ nào có duyên với mình ; hành giả dùng chỉ định nhập thai pháp , khởi đảo tưởng để nhập vào bào thai mới , như vậy hành giả đã tự tại chuyển sanh hay là đã hóa sanh rồi vậy . Đây là một phương pháp , mà đa số giới Phật giáo tại Tây Tạng thường dùng , mà người đời thường gọi những linh đồng chuyển thế nầy là Phật sống .

ĐOẠT XẢ PHÁP


Là đợi lúc đứa bé trong lúc mới sanh hay sau khi sanh , hành giả dùng oai lực phước đức thần thông của mình , thỉnh cầu thần thức của đứa bé rời khỏi , rồi sau đó hành giả đi vào trong nhục thể mới nầy , nhờ đó hành giả được sinh tồn trên cỏi trần mà vẩn còn bảo tồn được toàn bộ ký ức và ý thức củ .
Do đó , phương pháp đoạt xả nầy , là chiếm lấy nhục thể của người khác ; nhưng cơ hội nầy rất khó sở đắc , cùng phương pháp nầy rất ẩn mật , không dể gì mà truyền lại cho người khác ; nên có rất ít người nắm vững rỏ ràng về phương pháp nầy .

Trong pháp du già của Mật Tông Tây Tạng , hành giả có thể chuyển di thần thức của mình ra khỏi thân thể để đi đến một nơi nào đó và làm những việc , mà nhục thân của hành giả không thể đi đến đó làm được , sau khi hoàn tất công việc hành giả trở về nhục thân của mình như trước ; phương pháp nầy được gọi là Linh Thể Xuất Du hay Thần Thức Xuất Du ; còn bên Đạo Gia gọi là Nguyên Thần Xuất Khiếu .

Thần Thức Xuất Du Pháp hay Mộng Du Đại Pháp


Sau đây là phương pháp tập Thần Thức Xuất Du Pháp tức Mộng Du Đại Pháp , mà Mộng Du Đại Pháp là một tiểu pháp môn , nằm trong Mộng Quán Thành Tựu Pháp của Naropa Lục Pháp :

Khi hành giã đã tu tập thành công đại pháp nầy rồi , hành giả có thể xuất thần thức du hành khắp mọi nơi và có thể trở về một cách an toàn .

Phương pháp tu tập :

Mổi đêm trước khi đi ngủ , hành giả dành thì giờ tương ứng thích hợp rộng rải cho bài tập . Trước tiên , Hành giả ngồi cho ngay ngắn , chắp hai tay lại trước ngực , dùng tưởng tượng đem trái tim của mình dời đến ngay giửa ngực , tức là Tâm Luân giữa trung mạch , tiếp đến hành giả tưởng tượng trái tim của mình biến thành một hoa sen trắng nằm trên một đài hoa màu xanh lá cây , sau đó hành giả tưởng tượng trong hoa sen đó hiện lên một chủng tử tự của Bổn Tôn đã ban cho , chủng tử tự nầy hiện ra thật tinh khiết và rỏ ràng .
Tiếp đến hành giả lại tưởng tượng , ở trên đỉnh đầu của mình có một hoa sen khác , trên hoa sen nầy có Bổn Tôn của mình đang ngồi ; trong tâm niệm của hành giả lúc nầy phải tưởng niệm tam vị nhất thể là Thượng Sư – Bổn Tôn – Đại Nhật Như Lai ; hành giả tưởng tượng trung mạch của Bổn Tôn tương thông cùng trung mạch của hành giả , đường tuyến dưới cuối cùng trung mạch của Bổn Tôn cùng cùng tuyến dưới cuối trung mạch của hành giả tương thông , hành giả tưởng tượng ở chính giửa hoa sen của Bổn Tôn cũng có một đóa chủng tử tự được hình thành bởi minh điểm màu trắng .
Sau đó hành giả niệm thỉnh văn sau đây :
Kính thỉnh chư Thượng Sư , thí cho đại gia trì
Mộng trung du càn khôn , phổ chúng chư chung thổ

Tiếp đến , hành giả tưởng tượng minh điểm của Bổn Tôn phát quang chiếu sáng cùng minh điểm của hành giả tương chiếu , như hút lấy lẩn nhau vậy ; tiếp đến hành giả tưởng tượng minh điểm chủng tử tự của hành giả bị minh điểm của Bổn Tôn hút lấy , kéo minh điểm chủng tử tự của hành giả lên trên và nhập làm một với minh điểm của Bổn Tôn thành nhất thể . Một lúc sau , hành giả tưởng tượng , đài hoa sen màu xanh lá cây có hoa sen trắng đang nằm ở tâm luân của hành giả , lúc nầy nó phát sanh ra một sức hút rất mạnh , nó hút lấy minh điểm chủng tử tự của hành giả đang nhập một với Bổn Tôn , phải tách rời ra và đi theo ánh sáng trong trung mạch mà đi lần xuống , trở lại nằm trong hoa sen trắng trên đài sen xanh nơi tâm luân của hành giả .
Hành giả cứ tiếp tục thực tập như thế mổi buổi tập 21 lần , một thăng một giáng là tính một lần .
Đến cuối cùng , hành giả tưởng tượng đức Bổn Tôn cùng hoa sen trên đỉnh đầu , đang chiếu sáng quang minh sáng ngời tủa ra khắp nơi và hình ảnh nầy từ từ đi hạ xuống nhập làm một vào trong minh điểm của hành giả , tức Đức Đại Nhật Như Lai – Bổn Tôn – Thượng Sư cùng minh điểm của hành giả hợp thành tứ vị nhất thể vậy .
Lúc nầy , hành giả có thể nằm xuống để ngủ , tốt nhất là nằm với tư thế của phương pháp Đại Thán Thi , tức hành giả nằm ngữa , hai tay để xuôi xuống hai bên thân mình , hai chân hơi dang ra , mời ngón chân hướng lên trời ; lúc nầy hành giả phải có quyết tâm và ý tưởng mạnh là muốn nguyên thần của mình xuất du ra ngoài trong khi hành giả đã ngủ , để nguyên thần của hành giả đi đến một nơi nào đó mà hành giả muốn đến .
Trước khi hành giả đi vào giấc ngũ , toàn thân của hành giả phải buông thả thư thái , hành giả tập tưởng tượng nguyên thần của mình đi ra khỏi thể xác từ nơi đỉnh đầu ; trong quá trình nguyên thần xuất ra khỏi thể xác , cơ thể lúc đó có thể bị rung động mạnh , hoặc xuyên qua sự rung động nầy có thể làm chiếc giường nằm cũng bị rung động theo ; hoặc có khi hành giả cảm thấy cơ thể của mình hình như bị xé nát ; một điều quan trọng là hành giả nên nhớ , hành giả thấy bất cứ điều gì có xảy ra , hành giả vẩn cứ bình tỉnh , đừng nên lo sợ mà cứ tiếp tục tu tập ; sau khi luyện tập được vài lần , hành giả có thể an nhiên đi vào giấc ngũ , đến một lúc nào đó hành giả sẻ đi đến một cảnh giới siêu giác nào đó trong giấc ngũ , tức nguyên thần xuất du . Trong lúc hành giả luyện tập , nếu lở hành giả có vô tình rơi vào giấc ngũ , thì cứ việc ngũ tự nhiên mà vô ngại , không sao cả .
Có một số người trong những giấc ngũ bình thường , cơ thể đột nhiên bị chấn động mảnh liệt và người nầy có một cảm giác như mình vừa bị rớt xuống từ trên cao ; thì đó là một hiện tượng nguyên thần của người nầy đang sắp xuất ra khỏi cơ thể , nhưng đã bị nhục thể của họ hút trở lại . Thông thường người nào , thường có những hiện tượng trên trong lúc ngũ , thì khi tập phương pháp nầy sẻ dể dàng xuất nguyên thần hơn .
Khi nguyên thần đã thực sự xuất khỏi cơ thể , thì có thể nhìn thấy nhục thể của mình vẩn còn nằm trên giường , và mình vẩn cảm thấy bình thường , không phải vừa đi ra và đang ở ngoài cơ thể , mà chỉ thấy là mình vẩn bình thường và cơ thể đang ở ngoài mình vậy . Khi nguyên thần thật sự xuất ra ngoài rồi , khi đi du hành đến đâu , thì hành giả sẻ có cảm giác bình thường như lúc đi du hành bằng nhục thân vậy .
Do đó , hành giả cần phân biệt các trạng thái của Linh Thể Xuất Du và trạng thái Nhập Định Mộng Trung Viển Thị hoặc trạng thái đi vào Siêu Giác , đem về những thông tin từ xa , có những khác biệt với những giấc mộng , có những cảnh mộng mị bình thường khác .
Bình thường hành giả đi dạo chơi đến một nơi nào đặc biệt và ưa thích , hành giả cần lưu tâm quan sát các chi tiết và tối về trước khi đi ngủ , hành giả thành khẩn phát tâm nguyện mảnh liệt , là trong giấc ngũ nguyên thần của hành giả sẻ đi đến dạo chơi nơi đó ; đây cũng là những bài tập bổ ích hổ trợ cho việc thành tựu Mộng Du Đại Pháp vậy .
Khi hành giả tập phương pháp nầy , cơ thể hành giả cần mặc quần áo rộng rải , nằm cho thoải mái , loại bỏ những mệt nhọc của cơ thể và những tình cảm căng thẳng , như vậy sẻ dể xuất nguyên thần hơn .
Trong lúc tập Mộng Du Đại Pháp , Linh Thể của hành giả lần đầu xuất ra ngoài , thì chỉ nên đi vòng vòng quanh nhà hay chỉ đi đến những nơi gần ; khi nào đã quen thuộc việc xuất nhập , thì lúc đó hành giả chỉ cần tâm niện muốn đến nơi nào thì hành giả sẻ hiện diện tại nơi đó ngay lập tức . Trong khi nguyên thần hành giả xuất du , thì có một sợi dây ánh sáng nối liền nguyên thần của hành giả với nhục thể , trong khi đó nếu có ai chạm hay nhúc nhích nhục thể của hành giả , thì nguyên thần sẻ được sợi dây ánh sáng nầy kéo về nhập một với nhục thân ngay tức khắc .
Hành giả không nên lo sợ khi đả xuất nguyên thần ra ngoài cơ thể , mà trong tâm hành giả lúc nào cũng thường thành khẩn , tâm niệm mình cùng Đức Đại Nhật Như Lai , Bổn Tôn , Thượng Sư , tứ vị nhất thể , tức mình cùng các vị nầy là một vậy , thì niềm tin hộ trì của các vị nầy sẻ hộ trì cho tâm hành giả được an định .
Khi hành giả nguyên thần xuất du , bất ngờ gặp những tình huống kinh hải , thì hành giả chỉ cần niệm tụng chú ngử của Bổn Tôn hay thỉnh cầu sự gia trì của Thượng sư là được ; nếu do tình trạng quá căng thẳng , nguyên thần của hành giả không thể nhập trở về nhục thân , thì hành giả cũng chỉ cần niệm tụng chú ngử của Bổn Tôn hay thỉnh cầu sự gia trì của Thượng sư , thì nguyên thần của hành giả sẻ tức tốc được nhập trở về nhục thân một cách thuận lợi .
Giai đoạn kết thúc bài tập :
Sáng hôm sau , trước khi thức dậy , hành giả vẩn nằm trong tư thể củ và kết thúc buổi tập , bằng cách quán tưởng hoa sen từ từ thu búp lại , bao bọc lấy minh điểm chủng tử tự vào trong giửa hoa sen , và hoa sen từ từ hóa trở lại hình trái tim của hành giả và hành giả đưa trái tim của mình trở về vị trí của nó ở bên trái lồng ngực như củ . Như vậy buổi tập đã hoàn tất , hành giả có thể từ từ mở mắt , nhúc nhích chân tay và từ từ ngồi dậy , với một cảm giác kiết tường , an lạc , khõe mạnh và một ngày vui tươi đầy may mắn .
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: THUẬT DU HỒN VÀ MỘNG DU ĐẠI PHÁP CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG   

Về Đầu Trang Go down
 
THUẬT DU HỒN VÀ MỘNG DU ĐẠI PHÁP CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Huyền Môn :: Giảng Đường :: Đạo Học - Tâm Linh - Tín Ngưỡng-
Chuyển đến